Liên hệ
Tổng giám đốc

Đào Minh      

0903 413 330

emal_btn
Cho thuê máy

Ph. Ngọc Toàn

0983 580 263

emal_btn
Kinh doanh

Ph. Ngọc Toàn

0983 580 263

emal_btn

Chăm sóc khách hàng

Minh Thắng

0968 205 508

emal_btn

HƯỚNG DẪN THIẾT KẾ-THI CÔNG SỬA CHỮA ĐƯỜNG BỘ BẰNG THIẾT BỊ CÀO BÓC CHUYÊN DỤNG

08 Tháng Chín 2014

1. Phạm vi áp dụng


-   Chỉ dẫn  này  đề cập  đến  công  nghệ cào  bóc  lớp  mặt  đường  cũ sử dụng  máy  cào  bóc chuyên dụng trong duy tu, sửa chữa mặt đường bê tông nhựa.
- Công nghệ này  được sửdụng  đểcào bỏ  đi lớp bê tông nhựa cũ  đến một chiều sâu nhất định, sau  đó rải lại lớp bê tông nhựa mới (hoặc không); hoặc được sử dụng trong trường hợp tái chế toàn chiều sâu cần xử lý trước (theo thiết kế, cần cào bỏ bớt  đi một phần lớp bê tông nhựa cũ).


2. Phân loại các phương pháp cào bóc
Tùy theo mức độ và mục đích cào bóc, phương pháp cào bóc được phân thành 03 loại:


2.1. Phương pháp cào bóc đơn thuần
- Cào bóc phần mặt  đường bị lồi lõm, biến dạng, sau  đó có thể vá lại cho bằng phẳng, êm thuận bằng vật liệu bê tông nhựa mới hoặc không.
- Phương  pháp cào bóc  đơn thuần  được thực hiện mang  tính khẩn cấp, thường  được thực hiện trên quy mô nhỏ.


2.2. Phương pháp cào bóc và làm lại lớp mặt
- Cào  bỏ  đi  lớp  bê  tông  nhựa  cũ  đến  một  chiều  sâu  nhất  định, sau  đó  rải  lại  lớp bê  tông nhựa mới (tham khảo Hình D.1).              

          Hình D1. Ví dụ về phương pháp cào bóc và làm lại lớp mặt

2.3. Phương  pháp cào bóc mang tính xử lý trước


- Cào bỏ  đi lớp bê tông nhựa cũ  đến một chiều sâu nhất  định trước khi thực hiện công tác tái chế mặt  đường cũ toàn chiều sâu (theo thiết kế, cần cào bỏ bớt  đi một phần lớp bê tông nhựa cũ).

3. Thiết kế kết cấu khi sử dụng phương pháp cào bóc và làm lại lớp mặt bê tông nhựa


3.1. Trình tự thiết kế.


Trước hết, cần phải khảo sát trạng thái, tình hình hư hỏng của mặt  đường và các khả năng  cho  phép  (có  được  nâng  cao  độ mặt  đường  hay  không)  để quyết  định  lựa  chọn phương pháp cào bóc; công việc này được thực hiện theo sơ đồ Hình D.2.

 

Hình D.2. Sơ đồ lựa chọn phương pháp thi công

Thông  thường,  phương  pháp  này  là  phương  pháp  cào  bóc  một  phần  của  lớp  bê tông  nhựa  đã  bị hưhỏng  và  làm  lại  lớp  bê  tông  nhựa  mới  có  chiều  dày  giống  như cũ, nên không cần phải có thiết kế kết cấu đặc biệt. Tuy nhiên, trong một số trường hợp như hư hỏng do lưu lượng giao thông tăng, hư hỏng  được phán  đoán là hư hỏng mang tính kết cấu, hay trường hợp phải hạ  độ cao mặt đường  thì  ta  cần  phải  tiến  hành  thiết  kế theo  phương  pháp  thiết  kế áo  đường  khi  xây dựng  mới  áo  đường.  Trường  hợp  thiết  kế áo  đường  kiểu  này  và  trường  hợp  áp  dụng.
phương pháp làm lại lớp bê tông nhựa mới theo phương pháp AASHTO  theo trình tự sau:
- Từ Bảng D.1, ta  đánh giá chỉ số SN0  (chiều dày qui  đổi tương  đương) của áo  đường atphan cũ theo tình trạng hư hỏng của áo đường.
- Tính SN mục tiêu theo mục 8.2.2 căn cứ vào cường độ chịu lực của nền  đường (CBR thiết kế) và lưu lượng giao thông thiết kế (lưu lượng giao thông ngày của xe cỡ lớn)
- Tính độ dày còn thiếu của lớp áo  đường t (cm) theo công thức (D.1) từ SN0  (chiều dày qui đổi tương đương) tính được theo Bảng D.1.
Độ dày còn thiếu t (cm) = SNmục tiêu - SN0  (D.1)
- Từ độ dày còn thiếu t (cm), tính ra độ dày của hỗn hợp bê tông nhựa mới.
- Lựa chọn kết cấu sao cho SN lớn hơn hoặc bằng SN mục tiêu


Bảng D1. Hệ số qui đổi tương đương của các lớp áo đường cũ

3.2. Ví dụ thiết kế
a. Các dữ liệu dùng để tính toán:
- Tỷ lệ rạn nứt chân chim là 15-30%
- Nguyên nhân sinh ra rạn nứt chân chim là do sửdụng lâu ngày, ít khảnăng do kết cấu.
- CBR thiết kế là 12.
- Kết cấu áo đường hiện trạng như hình D.3
- Yêu cầu sửa chữa: Không được phép nâng cao độ mặt đường.
- Lưu lượng giao thông trên tuyến theo khảo sát (số lượng xe tải trọng nặng, tính cả xe khách nhỏ) (bảng D2)

 

 Bảng D2. Lưu lượng xe khảo sát ngoài hiện trường

 

 - Tải trọng trục xe

 

 

 

 b. Tính toán SN0 :
Căn cứ vào mức độ hư hỏng của kết cấu áo đường theo số liệu khảo sát và bảng D1, ta tính được:

SN0 = 23×0,1 + 17×0,12 + 5×0,2 + 7x0.2 = 6,74 cm


c. Tính toán SN mục tiêu:
- Lựa chọn các tham số như sau:
Thời kỳ phục vụ và phân tích 7 năm
Độ tin cậy R = 85%, Z = -1.037 (đường quốc lộ ngoài đô thị)
Độ lệch chuẩn: So = 0,45
Khả năng phục vụ cuối kỳ Pt = 2,2
Khả năng phục vụ đầu kỳ: Po = 4,2 .
Vậy tổn thất khả năng phục vụ của kết cấu ∆PSI = Pt – Po = 4,2 – 2,2 = 2,0
- Xác định tổng số trục xe tính đổi về trục xe tiêu chuẩn (8,2T) trên một làn xe/ngày đêm ở năm khai thác
Công thức quy đổi:

Pi : Tải trọng trục bánh đơn

 

Từ lưu lượng thiết kế và các tham số lựa chọn tính được SN mục tiêu = 8.81 cm
- Nhận xét: SN0 < SN mục tiêu, do đó tình trạng hư hỏng của kết cấu áo đường ở mức độ cần phải khắc phục sửa chữa Cường độ KCAD sau khi cào bóc 12cm BTN cũvà thảm lại mới.


d. Đề xuất phương án sửa chưa nâng cao cường độ kết cấu áo đường
- Phương án sửa chữa
Cào bóc toàn bộ lớp mặt BTN cũ bị rạn nứt, hư hỏng (12cm). Thảm lại lớp BTN mới làm mặt đường xe chạy 12cm (hình D.3).
- Mô tả và tính toán kết cấu áo đường hiện tại và sau khi sửa chữa.

 

 Hình D.3. Ví dụ sửa chữa hư hỏng của kết cấu mặt đường cũ sau thời gian khai thác

 e. Đồ thị biểu thị kết cấu áo đường theo thiết kế ban đầu- sau thời gian khai thác và sau khi được sửa chữa bằng phương pháp cào bóc BTN cũ thay thế bằng lớp BTN mới.

 

 Ghi chú:
Trục tung: Biểu thị chỉ số cường độ kết cấu áo đường theo chỉ số Sn (AATSHTO)
Trục ngang: Biểu thị chiều dầy các lớp áo đường tính từ lớp nền K-98
Đường màu đỏ Biểu thị cường độ KCAD thiết kế ban đầu trước khi đưa vào khai thác
Đường đen: Biểu thị cường độ KCAD hiện trạng hư hỏng
Đường xanh: Biểu thị cường độ KCAD sau khi cào bóc và thảm 2 lớp BTN-12cm
4. Thiết bị thi công chính
Công nghệ này yêu cầu phải có các thiết bị thi công chính sau:
4.1. Máy cào bóc chuyên dụng:
- Nguyên lý hoạt  động: Khi cào bóc, bộ phận cào bóc là một tang dao băm (cutter drum) được  điều khiển  để cào  bóc  lớp  bê  tông  nhựa  đến  một  độ sâu  nhất  định;  vật  liệu  được cào bóc sẽ theo băng tải và  được chuyển vào thùng xe chất tải chạy phía trước máy cào bốc với tốc  độ tương  đương tốc  độ làm việc của máy cào bóc.
- Máy cào bóc có thể sử dụng bánh xích hoặc bánh lốp, trong đó máy cào bóc sử dụng bánh lốp thường được sử dụng phổ biến hơn. Sau đây là ví dụ về máy cào bóc mặt  đường nhãn hiệu SAKAI,  loại ER500F như Hình D.4, các thông số kỹ thuật theo Bảng D.3.

 

 

 4.2. Ô tô tải để sử dụng để chở vật liệu sau khi cào bóc và Xe hút bụi để làm vệ sinh mặt đường nếu yêu cầu thông xe ngay sau khi cào bóc.


5. Phương pháp cào bóc đơn giản
- Phương pháp này  được sửdụng trong trường hợp khẩn cấp và cần sửa chữa ngay. Khi mặt  đường asphalt có dấu hiện xuống cấp, bề mặt lồi lõm xấu. Để khắc phục máy sẽ phay (bóc) những phần  đó và sẽ làm phẳng bề mặt như ban đầu. Máy  được dùng  để cào những phần hỏng và dùng chính những phần bóc ra đó để pha trộn và rải lại mặt đường - Sau khi cào bóc và tái chế, mặt đường được gia cố xử lý có thể sử dụng ngay mà không gặp bất kỳ trở ngại nào như các phương pháp gia cố khác.
- Phương pháp này nói chung thương dùng cho việc sửa chữa khẩn cấp không dùng cho việc bảo trì thường xuyên. 


Tham khảo về chất lượng phương pháp ở các hình dưới đây:

 

 6.1. Tiến hành xác định vị trí, phạm vi cào bóc


6.2. Cào bóc bê tông nhựa cũ


- Cào bóc bê tông nhựa cũ bằng máy cào bóc chuyên dụng. Vật liệu cào bóc  được băng tải  của  máy chuyển vào thùng xe ô tô và  được vận chuyển  đổ vào nơi quy  định. Có thể cào bóc khô hoặc sử dụng nước tạo ẩm khi cào bóc.
- Khi cào  bóc ta  phải chú ý không  để máy cào  bóc nghiêng sang bên trái hay bên  phải hoặc nâng lên hạ xuống với hướng tiến, cần điều chỉnh máy đến đúng cao độ thiết kế.
- Bề rộng thi công của máy cào bóc mặt  đường là khoảng 2 m. Nếu bề rộng mặt  đường lớn hơn,  cần phải cho máy đi thành nhiều vệt, các vệt sau tiếp giáp với lượt trước không được để lại gờ tiếp giáp.
- Nếu chiều sâu cần phải cào bóc lớn hơn chiều sâu khả năng của máy thì phải cào bóc thành nhiều lần.
- Tại vị trí  đường cong hoặc gần vị trí các công trình xây dựng như miệng cống chúng ta cần lưu ý cẩn thận để không làm hỏng công trình. Vị trí không thể cào bóc  được bằng máy, phải cào bóc thủ công với các dụng cụ thích hợp.
6.3.  Sau  khi  cào  bóc,  phải  làm  sạch  bề mặt  đường  đã  cào  bốc  bằng  máy  thổi,  máy hút hoặc các dụng cụ phù hợp
6.4.  Tiến  hành  thi  công  các  lớp  bê  tông  nhựa  mới  trên  bề mặt  đường  sau  khi  cào bóc  đã  được làm sạch theo đúng quy trình hiện hành

 

 

 

 

 

 

 

Nhận xét